Kim Thúy và Ru

I wrote this review of Ru by Kim Thuy for Vien Dong Daily News. It was published in the Tet, Year of the Pig issue in Feb 2019.


Ru, tiểu thuyêt ngắn đầu tay của Kim Thúy được bắt đầu từ cuộc Tổng tấn công tết Mậu thân năm 1968 khi Nguyễn An Tịnh, người dẫn chuyện của cuốn sách, sinh ra đời. Mỗi chương của cuốn tiểu thuyết là những bài viết ngắn kể những sự kiện lớn trong đời của An Tịnh gắn liền với lịch sử của Việt Nam, cũng như những vui buồn lớn nhỏ từ thuở ấu thơ đến tuổi trưởng thành trong vòng 30 năm. Giọng văn nhẹ nhàng thanh thoát đôi khi đọc êm như thơ, nhưng nhiều câu chuyện cô kể không êm ấm chút nào.

Ru nguyên bản được viết bằng tiếng Pháp và xuất bản năm 2009 ở Canada. Cuốn sách được dịch ra tiếng Anh năm 2012 và tính đến bây giờ đã được dịch ra hơn 15 thứ tiếng. Ru được xem như một cuốn tiểu sử tự viết của Kim Thúy, nhưng nó không phải được viết như một cuốn hồi ký, mà được viết dưới dạng một cuốn tiểu thuyết với lời kể của nhân vật chính Nguyễn An Tịnh.

An Tịnh sinh trưởng trong một gia đình giàu có chịu nhiều ảnh hướng của văn hóa Pháp ở Sài Gòn. Cha cô làm việc trog nội các, cậu Hai cô là một thành viên ở nghị viện, đi học ở Pháp, đi đánh tennis, nói chuyện về Proust và có đời sống phóng khoáng. Mẹ cô thì không phải làm lụng hay nấu nướng vất vả gì cả. Suốt ngày nếu bà không dàn hòa những cãi vả giữa người đầu bếp nấu món ăn Pháp và người đầu bếp nấu món ăn Việt Nam, thì bà phán xét chuyện tình giữa những người làm công trong nhà. Buổi chiều bà lo làm tóc, trang điểm và chọn trang phục đi dự dạ tiệc với chồng.

Khi Sài Gòn thua cuộc chiến với quân đội miền Bắc, gia đình An Tịnh phải chia nửa căn nhà cho quân đội miền Bắc, và bị tịch thu hết tài sản, chỉ được giữ lại những thứ thật cần thiết cho đời sống hàng ngày. Giống như những người bộ đội chỉ có vỏn vẹn một cái mũ nồi màu xanh, một đôi dép lào làm từ bánh xe cũ, một bộ đồng phục và một cái khăn choàng sọc trắng đen.

Khi có chính sách người Việt gốc Tàu được đi vượt biên kín đáo, gia đình An Tịnh đã rời bỏ Việt Nam từ biển Rạch Giá. Họ may mắn đến được Mã Lai và sống ở trại tị nạn với nhiều thiếu thốn, không điện nước, không có nhà ở, sống ở những cái chòi tự dựng. Từ trại tị nạn An Tịnh và gia đình được bảo trợ đi Quebec, Canada. Tại đây, cha mẹ cô đã bỏ hết quá khứ để xây dựng lại cuộc sống ở nơi xa lạ, từ việc chùi dọn các nhà vệ sinh, đến làm việc ở các nhà máy, làm nhà hàng…. An Tịnh thì bắt đầu học ngoại ngữ, chọn ngành nghề và theo đuổi Giấc Mơ Mỹ. Quá trình thực hiện giấc mơ Mỹ đã giúp An Tịnh hóa thân từ một cô bé nhút nhát chỉ là cái bóng của mọi người, đặc biệt là Sao Mai, người chị em cô cậu cùng tuổi với cô, thành một luật sư “có giọng nói tự tin, hành động mạnh mẽ, biết rõ điều mình muốn, có cái nhìn thẳng thắn và dáng đi nhanh nhẹn.”

Khi sống định cư ở Canada, Kim Thúy đã trải qua nhiều nghề: thợ may, người phiên dịch, luật sư, chủ nhà hàng. Viết văn đến với cô rất tình cờ. Trong cuộc phỏng vấn với đài BBC tiếng Việt, cô đã kể rằng cô thường nhai hạt dưa khi dừng xe đợi đèn đỏ, nhưng cắn hạt dưa nhiều hư răng, nên cô chuyển qua viết trên điện thoại di động. Lúc đầu chỉ tính viết cho vui trong vòng một năm, nhưng chương trình viết kéo dài năm năm với sự giúp đỡ của nhiều người, và thành quả là cuốn tiểu thuyết ngắn đầu tay Ru.

Kim Thúy viết Ru vì cô muốn lưu lại “ký ức của một mảng lịch sử mà sẽ không có trường học nào dạy.” Cô kể cho con nghe chuyện con heo được vận chuyển từ nông thôn ra thành thị trong những cái hòm đưa đám trong đám tang để qua mắt những người kiếm soát; thỉnh thoảng cô làm lại món chà bông cho hai đứa con trai của mình ăn, để nhớ lại thời gian sau 1975 khi những người vợ đựng chà bông trong lon sữa Guigoz đi thăm chồng ở trại tù (trại học tập) nhưng không biết được chồng mình còn sống hay đã chết, có thương tích hay bệnh tật gì không.

Ru còn giới thiệu cho độc giả khắp nơi trên thế giới nét đẹp và đặc trưng của văn hóa và con người Việt Nam.

Thời gian cô ở Hà Nội khi về Việt Nam làm việc trong vòng 3 năm, An Tịnh kể rằng cô thường đến một hồ sen ở ngoại ô Hà Nội mỗi Chủ Nhật. Ở đó cô luôn thấy hai hoặc ba người đàn bà chèo một con thuyền nhỏ quanh hồ và “thả lá trà vào những cái hoa sen đang nở lớn. Ngày hôm sau họ trở lại thu nhặt từng chiếc lá trà trước khi cánh hoa tàn, khi đó lá trà đã thấm đượm hương thơm của nhụy hoa suốt đêm hôm trước. Họ nói với tôi rằng những cái lá trà đó lưu giữ linh hồn của những bông hoa có đời sống ngắn ngủi.”

Ru trong tiếng Việt là những câu hò, bài hát người mẹ, người chị, người bà hát để đưa đẩy đứa bé vào giấc ngủ. Nhưng đối với người nước ngoài, ru không chỉ dừng lại ở đó. Một người bạn người Pháp của An Tịnh khi ở Hà Nội đã rất thích thú khi nghe những câu chào hàng của những người bán hàng rong. Đối với anh đó là những bài hát có âm điệu đi từ trái tim của người hát, là âm nhạc đi xuyên qua màn sương sớm nhẹ nhàng đánh thức ta dậy, dịu dàng như một lời ru buổi sáng. Anh trân quý chúng và thức dậy lúc năm giờ sáng để ghi âm lại “Anh nói với tôi rằng chẳng bao lâu nữa những âm thanh này sẽ không bao giờ nghe trên đường phố, những người bán hàng rong sẽ quẳng bỏ những cái thúng của họ và đi làm thuê ở các nhà máy. Vì vậy anh muốn bảo tồn những giọng hát đó và yêu cầu tôi phiên dịch ra cho anh. Sau đó anh liệt kê chúng ra nhiều loại: loi rao của những người bán súp, những người bán đậu hủ, những người mua đồ thủy tinh để tái chế, thợ mài dao, người làm mát-xa, người bán bánh mì… Chúng tôi dành ra nhiều buổi chiều để dịch chúng.”

Ru trong tiếng Pháp có nghĩa là những mạch nước nhỏ, hoặc có nghĩa trừu tượng là dòng chảy của nước mắt, của máu, của tiền bạc. Đúng như tựa đề, cuốn sách là sự tổng hợp của những bài viết ngắn có nhiều nước mắt được nối kết qua mạch kể chuyện rất độc đáo và giọng văn rất thơ. Không có một cốt truyện hấp dẫn, chỉ có rất nhiều nhân vật được gọi tên theo thứ tự trong nhà theo kiểu miền Nam như cậu Ba, dì Năm, dì Sáu, dì Bảy, ông nội, bà ngoại,… toàn bộ cuốn sách là những mảng truyện được kể theo luồng suy nghĩ và cảm xúc của tác giả, chứ không theo thứ tự thời gian.

Giọng văn của Kim Thúy, mặc dù bản thân cô trải qua nhiều khó khăn trong cuộc sống sau năm 1975 sau khi Sài Gòn thất thủ, cũng như nhiều nguy hiểm đến tính mạng khi vượt biên đi tìm tự do, không có sự chua cay hận thù, mà cô luôn kể các sự kiện với một óc khôi hài và một nụ cười mỉm. Khi ở trong hoang thuyền hôi hám và chật chội khi vượt biển Rạch Giá, những chiếc bánh bích quy dính đầy dầu chạy máy được cô tưởng tượng như những chiếc bánh bơ ngon lành, một ngọn đèn le lói được xem như ngôi sao tỏa sáng, và kế hoạch dùng thuốc cyanide của cha cô nếu gia đình bị cướp biển tấn công hoặc bị cộng sản bắt được thơ mộng hóa như nàng công chúa ngủ trong rừng bị đưa vào giấc ngủ triền miên bằng những viên cyanide thay vì trái táo tẩm độc.

Ru đọc như một bài thơ dài nói về khác biệt văn hóa Đông Tây, thể hiện qua món ăn, ngôn ngữ, lối sống. Ở phương Tây khi nói về tình yêu, người ta dùng một chữ yêu; ở Việt Nam yêu được biểu hiện qua nhiều mức độ và sắc thái khác nhau: thích, thương, yêu, mê, mê muội, tình nghĩa. Ở phương Tây khi yêu người ta chỉ có ôm vào, nhưng có những chân trời Đông, khi yêu con người mẹ phải chấp nhận cho con đi để con mình có được cuộc sống tốt đẹp hơn. Ở phương Tây người ta yêu bằng trái tim, nhưng ở Việt Nam khi hỏi những đứa trẻ “ thương bà để đâu?” thì chúng sẽ chỉ tay lên đầu. Ở phương Tây những cô gái trả tiền để xăm mình và có những vết sẹo vĩnh viễn trên da thịt, còn ở phương Đông, những cô gái trẻ được trả tiền và mang những vết sẹo trong lòng, nặng nề và vô hình như một phần của lich sử không được viết lại.

Ru còn là một lời ru dài về quê hương và nỗi nhớ nhà. Quê hương là những món phở, bún, hủ tiếu mà cô thường ăn sáng và quen thuộc đến mức không thể ăn những món nào khác khi cô sống ở nước ngoài. Quê hương là vết sẹo chích ngừa trên cánh tay mà chỉ cần một cái nhìn qua từ một người xa lạ ở một trạm xăng xa xôi ở Canada là cả hai đều hiểu rằng mình đã nhìn thấy những cành mai vàng, đã ăn món thịt kho ngày tết, đã chịu những trận đòn tét đít. “Một cái nhìn vào vết sẹo và cái gốc vùng nhiệt đới đã được cấy lâu ngày vào mảnh đất phủ đầy tuyết trắng lại hiện về. Trong một giây chúng tôi nhìn thấy sự mâu thuẫn, tình trạng hỗn hợp của chúng tôi: nửa này, nửa kia, không là gì cả nhưng cũng là tất cả. Một vết sẹo đơn giản trên da và toàn bộ lịch sử mà chúng tôi chia sẻ trải dài ra trước mắt giữa hai trạm xăng bên cạnh xa lộ.”

Ru là một cuốn tiểu thuyết ngắn chỉ dài có 170 trang, nhưng nó như một bài trường ca về chiến tranh và hòa bình, về cuộc sống của người di dân, về vẻ đẹp của tình người, của văn hóa, của quê hương, về sự phấn đấu vượt qua các khó khăn trở ngại để vươn lên “như con phượng hoàng sống lại từ đống tro tàn.” Hai tác phẩm kế tiếp của Kim Thúy cũng có tựa đề chỉ có một chữ: Mãn và Vi. Với phong cách đẹp riêng biệt của mình, Kim Thúy đã được chọn vào chung kết của Giải Nobel Thay Thế về văn chương năm 2018 (the alternative Nobel prize in literature), cùng với ba tác giả khác.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s